Giải pháp nào để quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử?

Theo các chuyên gia đến từ Ngân hàng Thế giới (WB) và một số tổ chức nước ngoài, cũng như đại diện một số bộ, ngành, để quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) hiện nay.

Ảnh: Internet

Điện tử hóa công tác quản lý thuế

Đề cập đến các giải pháp để quản lý thuế đối với các giao dịch điện tử xuyên biên giới, ông Jonathan Leigh Pemberton – Chuyên gia thuế cấp cao của WB cho rằng, đối với thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng – GTGT), nhiều nước áp dụng nguyên tắc người dùng ở đâu thì cơ sở tính thuế là tại nước đó. Nghĩa là, nếu người dùng tại Việt Nam thì cơ sở thuế là tại Việt Nam, nghĩa vụ thuế của các tổ chức cung cấp dịch vụ cũng phát sinh tại Việt Nam.

Một nguyên tắc khác mà chuyên gia WB đặt ra, đó là việc quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT phải đảm bảo công bằng giữa loại hình kinh doanh truyền thống và kinh doanh TMĐT. Nghĩa là cơ quan quản lý nhà nước khi đưa ra các cơ chế chính sách về thuế phải tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động TMĐT phát triển, không tạo ra những rào cản đối với người tiêu dùng.

“Một giải pháp để giải quyết vấn đề này mà các nước thường áp dụng, đó là đơn giản hóa việc đăng ký, kê khai và nộp thuế. Tất cả các bước này đều được thực hiện qua mạng internet. Đây là một mô hình đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới, một thông lệ được coi là tốt nhất hiện nay. Qua nghiên cứu tôi được biết, đây cũng là một định hướng mà Việt Nam đang hướng đến” – ông Jonathan Leigh Pemberton nói.

Một giải pháp khác mà chuyên gia WB đề cập, đó là cần phải tạo ra một cổng thông tin trực tuyến giúp cho các nhà cung ứng nước ngoài có thể dễ dàng đăng ký, kê khai và nộp thuế trực tuyến. Ông Jonathan Leigh Pemberton cho biết, thuế GTGT là thuế gián thu, nghĩa là thuế đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, tuy nhiên nhà cung cấp dịch vụ phải nộp thay cho họ và phải kê khai, nộp thuế. Trường hợp nhà cung cấp dịch vụ ở ngoài Việt Nam, việc khai thuế, nộp thuế phải được thực hiện bằng phương thức điện tử.

Đề cập đến hình thức thu thuế qua ngân hàng thương mại để khấu trừ thuế, ông Jonathan cho rằng, đã có một số nước áp dụng hình thức này, tuy nhiên cũng còn nhiều thách thức vì các ngân hàng thương mại không thể xác định được đâu là khoản thanh toán liên quan đến giao dịch điện tử, đâu là khoản thanh toán không liên quan đến giao dịch điện tử.

Đồng quan điểm với chuyên gia WB, ông Lê Anh Dũng – Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, để quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT xuyên biên giới hiện nay, các giao dịch cần phải được thanh toán thông qua các cổng thanh toán trực tuyến do Ngân hàng Nhà nước cấp phép. Ngoài ra, ông Dũng cũng khuyến nghị Tổng cục Thuế nên xây dựng cơ sở dữ liệu có kết nối với ngành ngân hàng, viễn thông; sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại để cập nhật kịp thời việc kê khai, nộp thuế để quản lý thuế hiệu quả hơn.

Xây dựng chính sách thuế phù hợp với thông lệ quốc tế

Ông Đặng Ngọc Minh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho rằng, thách thức lớn nhất trong việc quản lý thuế đối với nền kinh tế số, đó là việc thay đổi mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) hiện nay. Nhờ có ứng dụng công nghệ, nên DN có thể thu hẹp về khoảng cách, thời gian, giảm chi phí và không cần phải có sự hiện diện của thể nhân và pháp nhân thực hiện cung cấp hàng hóa dịch vụ.

Ông Minh cho biết, theo Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần mà Việt Nam đã ký với các nước, một DN nước ngoài chỉ phải nộp thuế thu nhập DN (TNDN) khi DN đó có một cơ sở kinh doanh cố định, qua đó DN thực hiện một phần, hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình. “Khái niệm này cho thấy, một DN nước ngoài nếu không có cơ sở thường trú thì sẽ không có cơ sở để thu thuế TNDN” – ông Minh nói.

Đề cập đến quy định này đối với thuế TNDN, ông Jonathan Leigh Pemberton cho biết, chính sách pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, cũng như trong Chương trình nghị sự Beps đã đề cập, cơ sở để thu thuế TNDN là có cơ sở thường trú (trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện…). Tuy nhiên, quy định này hiện nay quá lạc hậu đối với nền kinh tế số, vì thế không thể quản lý thu thuế đối với hoạt động TMĐT xuyên biên giới.

Trước bất cập trên đây, ông Minh cho biết, trong Chương trình hành động BEPS, ưu tiên số 1 là nghiên cứu về kinh tế số, xác định thế nào là cơ sở thường trú của DN kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế số. “Điều này có nghĩa là chúng ta phải định nghĩa lại, không thể dựa theo nguyên tắc về cơ sở kinh doanh cố định, mà phải có một định nghĩa hoàn toàn mới. Tuy nhiên định nghĩa này hiện nay các nước chưa có sự thống nhất” – ông Minh nói.

Để quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT hiện nay, đại diện Tổng cục Thuế cho rằng, cần phải tham gia tích cực cùng với các nước để đưa ra các lập trường, biện pháp sửa đổi toàn bộ hệ thống hiệp định tránh đánh thuế 2 lần theo nguyên tắc cho phép Việt Nam áp dụng thuế khấu trừ tại nguồn, đồng thời xây dựng cổng thanh toán một cửa quốc gia. Nghĩa là tất cả các hoạt động thanh toán phải qua hệ thống một cửa quốc gia để kiểm soát, thông qua đó sẽ chia sẻ thông tin với cơ quan quản lý thuế.

Trong quá trình sử dụng chữ ký số để thực hiện cách dịch vụ khai/nộp thuế điện tử hoặc bảo hiểm, hải quan, nếu khách hàng cần tư vấn và hỗ trợ vui lòng liên hệ ngay đến tổng đài 1900 2066 nhánh số 1. Bạn cũng có thể gửi thư ch chúng tôi về địa chỉ: support@newca.vn.

Nguồn: Thời báo tài chính Việt Nam (thoibaotaichinhvietnam.vn)

Bài viết cùng chuyên mục